Trang thông tin tổng hợp Viện Kiểm Sát Khánh Hòa

Nhiệt liệt chào mừng 66 năm Ngày thành lập ngành Kiểm sát nhân dân (26/7/1960 - 26/7/2026)

Một số vấn đề cần lưu ý khi xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

c) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

d) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

2. Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.”

Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.”

Với quy định trên, chúng ta thấy diện đối tượng của tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 về bản chất không khác so với quy định tại Điều 199 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Đó đều là những người đã từng sử dụng ma túy. Điểm khác biệt là tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 có quy định chặt chẽ và cụ thể hơn so với quy định tại Điều 199 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Nếu trước đây, diện đối tượng của tội danh này là những người đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thì nay theo Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, diện đối tượng của tội danh này được thu hẹp hơn, chỉ là người sử dụng ma túy và phải thuộc một trong bốn trường hợp sau:

1. Trường hợp người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

        Theo Điều 28 Luật Phòng, chống ma túy, có hai biện pháp cai nghiện ma túy, đó là: cai nghiện ma túy tự nguyện và cai nghiện ma túy bắt buộc. Thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện là từ 6-12 tháng (khoản 1 Điều 31 Luật phòng, chống ma túy), tính từ ngày Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra Quyết định cai nghiện tự nguyện. Còn thời hạn cai nghiện ma túy bắt buộc là từ 12 - 24 tháng (khoản 2 Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính), tính từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy, trong thời hạn này, nếu người đang cai nghiện có hành vi sử dụng ma túy thì đủ điều kiện để xử lý hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

        Đối với trường hợp điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, hiện nay chưa có văn bản quy định cụ thể về thời hạn điều trị. Tuy nhiên, có thể xác định thời gian điều trị theo phác đồ, liệu trình chỉ định của bác sĩ cho đến khi người cai hết nghiện.

2. Trường hợp người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

            Theo Điều 40 Luật Phòng, chống ma túy, những người hoàn thành xong thời gian cai nghiện thì phải chịu sự quản lý của chính quyền cấp xã như sau:

Điều 40. Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú

1. Người đã hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện, người đã hoàn thành điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hoàn thành việc cai nghiện hoặc chấp hành xong quyết định.

2. Người đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định.

            Như vậy, cần phân biệt hai nhóm đối tượng có thời hạn quản lý sau cai nghiện khác nhau, đó là:

- Nhóm có thời hạn quản lý 01 năm: Gồm những người cai nghiện ma túy tự nguyện; người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; người cai nghiện bắt buộc từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi;

- Nhóm có thời hạn quản lý 02 năm: Gồm những người cai nghiện bắt buộc đủ 18 tuổi trở lên.

Vì vậy, khi xem xét khởi tố tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, cần lưu ý đối tượng thuộc nhóm nào để xác định thời hạn.

3. Trường hợp người đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

Theo khoản 2 Điều 23 Luật Phòng, chống ma túy quy định, thì thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là 01 năm kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định quản lý. Như vậy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, điều kiện để xử lý trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” phải kết hợp cả hai điều kiện “trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện” và “đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”, thì đủ căn cứ để xử lý hình sự nếu người đó tiếp tục sử dụng ma túy. Thiếu một trong hai điều kiện này sẽ không đủ căn cứ để cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy.

Nói cách khác, trong thời hạn 02 năm kể từ khi hết thời hạn quản lý sau cai nghiện, nếu người này không bị đưa vào diện quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp xã mà sử dụng trái phép ma túy thì không đủ điều kiện để xử lý hình sự. Hoặc nếu người này đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy của UBND cấp xã, nhưng đã quá 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện (hoặc không thuộc trường hợp quản lý sau cai nghiện), thì cũng không đủ điều kiện để xử lý hình sự.

4. Trường hợp người trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

Là trường hợp chưa hết thời hạn cai nghiện tự nguyện, hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, nhưng người cai nghiện tự ý dừng không điều trị nữa. Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày họ tự ý dừng cai nghiện, nếu họ sử dụng ma túy trái phép thì đủ căn cứ để xử lý hình sự theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Thu Sương - VKSND khu vực 1

Liên kết website

Thông kê truy cập