Một số vấn đề, khó khăn thường gặp:
Vụ án “Cố ý gây thương tích” có nhiều đối tượng tham gia thường mang tính chất phức tạp bởi sự đan xen về vai trò, vị trí của các đối tượng (tổ chức, xúi giục, giúp sức, thực hành) thể hiện qua hệ thống những lời khai mâu thuẫn, có xu hướng không rõ ràng, che giấu hoặc đổ lỗi cho nhau. Mặt khác, do tính chất hỗn loạn, hành vi của các đối tượng thường được “ẩn danh” trong đám đông dẫn đến việc xác định vấn đề “vết thương này do người/công cụ nào gây ra” là bài toán khó nếu không có sự sắc bén trong nghiệp vụ.
Một vấn đề khác là ranh giới mong manh giữa tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Giết người”, đây là vấn đề pháp lý thường xuyên có quan điểm khác nhau giữa những người tiến hành tố tụng. Bởi trong nhiều trường hợp, khi một nhóm người cùng thực hiện hành vi cố ý gây thương tích sẽ có thể dẫn đến bản chất pháp lý khác nhau dựa trên ý thức chủ quan, vị trí tác động, cường độ tấn công,… của từng người. Việc xác định loại tội cùng ảnh hưởng đến việc xác định thẩm quyền tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.
Ví dụ: Võ Minh L bị nhiều người trong nhóm của Nguyễn Trần Tấn Anh T dùng khúc gỗ, mũ bảo hiểm đánh gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 36%. Cơ quan điều tra khởi tố vụ án về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (dẫn chiếu điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự), Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tra tiếp tục làm rõ để có căn cứ khởi tố bị can, giải quyết vụ án. Nhưng sau khi tiến hành làm rõ hành vi của từng đối tượng, Kiểm sát viên nhận thấy có căn cứ để xác định hành vi dùng khúc gỗ gây thương tích vào đầu (vùng trọng yếu) của Võ Minh L với cường độ quyết liệt, có tính chất côn đồ của Nguyễn Trần Tấn Anh T đã phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Sau đó, vụ án đã được chuyển đến Viện kiểm sát nhân dân tỉnh để tiến hành thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra theo thẩm quyền.
Giải pháp nâng cao chất lượng yêu cầu điều tra:
Yêu cầu điều tra được xem là “kim chỉ nam” cho hoạt động điều tra, đặc biệt là các vụ án “Cố ý gây thương tích” có nhiều đối tượng tham gia. Từ những vấn đề, khó khăn nêu trên, Kiểm sát viên cần tập trung vào các nhóm nội dung sau:
Thứ nhất, tập trung cá thể hóa hành vi và vai trò của từng đối tượng. Đây là yêu cầu quan trọng nhất khi giải quyết các vụ án “Cố ý gây thương tích” có nhiều đối tượng tham gia. Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên làm rõ: Nguyên nhân, mâu thuẫn dẫn đến sự việc đánh nhau; Ai là người khởi xướng, những người khác bày tỏ quan điểm như thế nào; Ai là người chuẩn bị hung khí; Quá trình xảy ra sự việc đánh nhau diễn ra như thế nào, ai là người trực tiếp gây ra vết thương trọng yếu cho nạn nhân; Vị trí, khoảng cách và hướng, cường độ tấn công của từng đối tượng so với nạn nhân;… Kiểm sát viên cần yêu cầu thực hiện thực nghiệm hiện trường hoặc cho đối chất ngay khi có mâu thuẫn về người thực hiện hành vi, diễn biến, vị trí, khoảng cách, cường độ thực hiện hành vi;…
Thứ hai, làm rõ tính chất của hung khí gây án. Trong các vụ án “Cố ý gây thương tích” có nhiều đối tượng tham gia, hung khí gây án thường đa dạng (từ vũ khí tự chế đến các vật dụng có sẵn). Yêu cầu điều tra phải yêu cầu truy tìm, thu giữ, niêm phong hung khí gây án đúng theo quy định pháp luật (trong trường hợp ở giai đoạn nguồn tin chưa tiến hành thu giữ, niêm phong) và tiến hành giám định, đánh giá hung khí gây án có phải là vũ khí quân dụng theo quy định pháp luật hiện hành hay không. Điều này có ý nghĩa quyết định đến việc xác định thẩm quyền điều tra, khung hình phạt và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, làm rõ cơ chế hình thành vết thương. Để có căn cứ khởi tố vụ án, bị can, Kiểm sát viên thường yêu cầu tiến hành trưng cầu, thu thập kết luận giám định tỷ lệ tổn thương trên cơ thể. Sau đó đối chiếu, yêu cầu làm rõ cơ chế hình thành vết thương có phù hợp với hung khí đã thu giữ và lời khai của các đối tượng hay không. Vậy nên khi có sự mâu thuẫn giữa tỉ lệ thương tật và hành vi mô tả, Kiểm sát viên cần yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại để kịp thời có căn cứ giải quyết vụ án.
Thứ tư, khai thác kịp thời, triệt để chứng cứ điện tử. Trong thời đại công nghệ, hầu hết các sự việc đánh nhau thường được diễn ra tại nơi công cộng hay có camera giám sát ghi lại hoặc người dân dùng điện thoại quay video. Do đó, yêu cầu điều tra cần phải yêu cầu tìm kiếm, trích xuất dữ liệu điện tử và lập biên bản đúng theo quy định pháp luật; mặt khác, có thể trưng cầu giám định kỹ thuật để đánh giá dữ liệu điện tử có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không. Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tự đến khu vực xảy ra sự việc để kiểm tra có hay không camera ghi hình để có căn cứ đưa ra yêu cầu điều tra chính xác, rõ ràng, kịp thời hơn. Khi đã có dữ liệu ghi hình, Kiểm sát viên có thể đưa ra yêu cầu Điều tra viên sử dụng hình ảnh từ video để thực hiện việc nhận dạng đối tượng, tránh tình trạng "nhận tội thay" hoặc đổ lỗi cho người không có mặt tại hiện trường. Trong trường hợp thu giữ được điện thoại của các đối tượng, Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra về việc trích xuất các dữ liệu tin nhắn, cuộc gọi có liên quan giữa các đối tượng để làm rõ ý chí chủ quan (có sự bàn bạc, phân công, chuẩn bị từ trước hay không). Nếu có căn cứ tồn tại dữ liệu nhưng đã bị xoá thì phải trưng cầu phục hồi dữ liệu từ các cơ quan chuyên môn.
Trong tiến trình cải cách tư pháp, yêu cầu điều tra không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là thước đo năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm nghề nghiệp của Kiểm sát viên. Đối với loại vụ án “Cố ý gây thương tích” có nhiều đối tượng tham gia, sự tỉ mỉ, sâu sát trong từng câu chữ của yêu cầu điều tra chính là rào cản ngăn chặn sự thiếu khách quan, góp phần giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và nâng cao vị thế của ngành Kiểm sát nhân dân.
Trên đây là quan điểm riêng của tác giả, rất
mong quý đồng nghiệp phản hồi và đóng góp ý kiến!