Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như sau:
1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”
Từ quy định trên có thể khái quát 03 nội dung cốt lõi: (1) nghĩa vụ tài sản của người chết không đương nhiên chấm dứt khi người đó chết; (2) trách nhiệm của người thừa kế là trách nhiệm có giới hạn trong phạm vi di sản nhận được; và (3) chủ thể thực hiện nghĩa vụ là người thực tế hưởng di sản, không phải mọi người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật.
Tuy nhiên, việc nhận thức và vận dụng đầy đủ 03 nội dung trên trong thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập. Vụ án tranh chấp nghĩa vụ trả nợ giữa bà Lê Thị L với những người thừa kế của ông Nguyễn Văn D là một ví dụ điển hình.
Theo hồ sơ vụ án, xuất phát từ quan hệ quen biết, bà Lê Thị L đã cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Y và ông Nguyễn Văn D mượn số tiền 500.000.000 đồng có lập Giấy mượn tiền, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Ông Nguyễn Văn D chết ngày 01/7/2021, không để lại di chúc. Những người thừa kế theo pháp luật của ông D gồm bà Nguyễn Thị Kim Y và hai con là anh Nguyễn Đông Ph, anh Nguyễn Đông Qu.
Di sản do ông D để lại gồm: ½ nhà đất tại địa chỉ số 8/14 Võ Thị S, phường Nam N, tỉnh K và ½ nhà đất tại địa chỉ Tổ dân phố Phước T, phường Nam N, tỉnh K. Ngày 09/11/2021, những người thừa kế đã lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản, theo đó anh Nguyễn Đông Ph tự nguyện nhường toàn bộ kỷ phần thừa kế của mình cho bà Nguyễn Thị Kim Y; bà Nguyễn Thị Kim Y và anh Nguyễn Đông Qu là những người trực tiếp hưởng di sản.
Trên cơ sở đó, bà Lê Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Kim Y, anh Nguyễn Đông Ph và anh Nguyễn Đông Qu cùng chịu trách nhiệm trả số tiền 1.058.630.137 đồng, trong đó tiền nợ gốc: 500.000.000 đồng và tiền lãi là 558.630.137 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án đã xuất hiện 02 quan điểm khác nhau như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, chỉ cần xác định ông D có để lại di sản và có những người thừa kế theo pháp luật, không cần xác định cụ thể giá trị di sản và kỷ phần thừa kế của từng người. Trên cơ sở đó, buộc bà Nguyễn Thị Kim Y trả 250.000.000 đồng và buộc cả ba người thừa kế là bà Nguyễn Thị Kim Y, anh Nguyễn Đông Ph và anh Nguyễn Đông Qu liên đới trả 250.000.000 đồng và tiền lãi trong phạm vi di sản.
Quan điểm thứ hai cho rằng, việc giải quyết vụ án phải bắt đầu từ việc xác định đầy đủ khối di sản của ông Nguyễn Văn D, xác định giá trị di sản và kỷ phần thừa kế cụ thể của từng người hưởng di sản, làm căn cứ xác định phạm vi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản. Theo đó, chỉ buộc những người thực tế hưởng di sản phải thực hiện nghĩa vụ, tương ứng với phần di sản họ nhận được; đồng thời xem xét tiền lãi trong giới hạn pháp luật cho phép.
Từ đó, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L, buộc bà Nguyễn Thị Kim Y phải trả cho bà Lê Thị L số tiền nợ gốc 250.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm; buộc bà Nguyễn Thị Kim Y và anh Nguyễn Đông Qu phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Thị L số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm trong phạm vi di sản ông Nguyễn Văn D chết để lại; Không chấp nhận yêu cầu của bà L đối với số tiền lãi vượt mức lãi suất theo quy định của pháp luật và yêu cầu anh Nguyễn Đông Ph thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
Từ hai quan điểm giải quyết trên thấy rằng:
Quan điểm thứ nhất chỉ dừng lại ở việc xác định người chết có để lại di sản là quyền sử dụng đất, nhà ở mà không làm rõ: Di sản đó có đang được thế chấp, cầm cố hay không; Di sản đã được dùng để bảo đảm nghĩa vụ nào; Giá trị di sản còn lại sau khi thực hiện các nghĩa vụ ưu tiên. Việc không xác định giá trị di sản và kỷ phần thừa kế cụ thể như quan điểm thứ nhất là chưa bảo đảm nguyên tắc “trách nhiệm có giới hạn”. Khi không lượng hóa được phạm vi di sản, Tòa án không có căn cứ vững chắc để xác định mức độ trách nhiệm của từng người thừa kế, tiềm ẩn nguy cơ buộc họ thực hiện nghĩa vụ vượt quá giá trị tài sản thực tế được hưởng.
Quan điểm thứ nhất đã đánh đồng “người thuộc hàng thừa kế” với “người hưởng di sản”, trong khi Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ đặt ra nghĩa vụ đối với người thực tế nhận di sản. Anh Nguyễn Đông Ph đã từ chối kỷ phần thừa kế và không hưởng bất kỳ di sản nào từ ông D, do đó không phải là chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
Quan điểm thứ hai bảo đảm sự hài hòa lợi ích giữa chủ nợ và người thừa kế: chủ nợ vẫn được bảo vệ thông qua việc buộc những người hưởng di sản thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản, đồng thời người thừa kế không bị đặt vào tình trạng gánh chịu nghĩa vụ vượt quá lợi ích mà họ nhận được.
Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai, bởi việc xác định đầy đủ khối di sản, giá trị di sản và kỷ phần thừa kế cụ thể của từng người là điều kiện tiên quyết để giải quyết đúng đắn các tranh chấp về nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, qua đó bảo đảm việc áp dụng Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 được thống nhất, chính xác và thuyết phục trong thực tiễn xét xử.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc áp dụng Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp về nghĩa vụ tài sản do người chết để lại vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc giải quyết vụ án thiếu thống nhất, tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.
Để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất, chính xác, tác giả xin đưa ra một số yêu cầu, kiến nghị và đề xuất như sau:
- Yêu cầu phân biệt rõ giữa “người thuộc hàng thừa kế” và “người hưởng di sản”, chỉ buộc những người thực tế nhận di sản phải thực hiện nghĩa vụ tài sản theo đúng quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015, tránh tình trạng mở rộng chủ thể chịu trách nhiệm một cách tùy tiện.
- Kiến nghị tăng cường công tác tổng kết thực tiễn xét xử đối với các vụ án tranh chấp nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, kịp thời phát hiện những cách hiểu chưa thống nhất để có định hướng chỉ đạo chung trong toàn hệ thống.
- Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân các cấp tăng cường kiểm sát chặt chẽ việc thu thập chứng cứ liên quan đến di sản, đặc biệt là việc xác minh tình trạng pháp lý, giá trị và hiện trạng tài sản, nhằm bảo đảm có đủ căn cứ pháp lý khi phát biểu quan điểm và đề nghị hướng giải quyết vụ án.
- Đề xuất tăng cường phối hợp liên ngành giữa Tòa án – Viện kiểm sát – Cơ quan thi hành án trong việc xác minh, quản lý và xử lý di sản, bảo đảm việc thi hành bản án được kịp thời, đúng pháp luật, hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo kéo dài.
Việc đặt ra các yêu cầu, kiến nghị và đề xuất nêu trên không chỉ nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn áp dụng Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015, mà còn góp phần xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ tài sản do người chết để lại minh bạch, chặt chẽ, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa chủ nợ và người thừa kế, qua đó nâng cao chất lượng xét xử và hiệu quả công tác kiểm sát trong lĩnh vực dân sự.
Giải quyết các vụ án về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa việc áp dụng đúng quy định pháp luật và đánh giá đầy đủ các tình tiết thực tiễn. Việc nhận diện và khắc phục những vướng mắc nêu trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử, kiểm sát, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động tư pháp./.