Trang thông tin tổng hợp Viện Kiểm Sát Khánh Hòa

Nhiệt liệt chào mừng 51 năm Giải phóng tỉnh Khánh Hòa (4/1975 - 4/2026) và 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026)!

Nguyên tắc nhân đạo- góc nhìn nhân văn trong luật hình sự việt nam

Lý luận về nhà nước và pháp luật cũng như thực tiễn hình thành, phát triển ở mọi nhà nước đều cho thấy rằng, ở bất kỳ Nhà nước nào, sự tồn tại của Nhà nước luôn đi cùng với cơ chế quản lý của nó. Đó chính là hệ thống các nguyên tắc, hình thức, phương pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để vận hành bộ máy. Cơ chế này định hướng, điều tiết và kiểm soát các hoạt động kinh tế, xã hội nhằm đạt được mục tiêu quốc gia. Theo đó, để đạt được mục tiêu đặt ra, Nhà nước buộc phải thực hiện việc quản lý xã hội thông qua các công cụ quản lý chủ yếu, bao gồm: Nhà nước thực hiện việc ban hành ra Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật để tạo ra hành lang pháp lý và buộc mọi chủ thể trong xã hội phải tuân thủ (gọi là công cụ pháp luật); Nhà nước còn đưa ra những định hướng phát triển dài hạn, trung hạn và ngắn hạn cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội (gọi là công cụ kế hoạch, chiến lược); Nhà nước cũng đưa ra những quy định về thuế, lãi suất, tín dụng, đầu tư công và sử dụng các quy định này như các đòn bẩy tài chính nhằm điều tiết vĩ mô (gọi là công cụ kinh tế) và Nhà nước sử dụng quyền lực hành chính bằng phương pháp mệnh lệnh (gọi là công cụ tổ chức - hành chính) để quản lý xã hội. Trong các công cụ đó, pháp luật được xác định là công cụ quan trọng nhất.

Nói đến pháp luật, chúng ta thường nghĩ ngay đến tính trừng trị nghiêm khắc vốn có của nó. Song, với pháp luật Việt Nam ta, nhất là các quy phạm pháp luật hình sự thì bên cạnh sự nghiêm khắc, chính sách xử lý của pháp luật hình sự nước ta luôn thấm đẫm tính nhân đạo. Điều này xuất phát từ truyền thống, đạo lý cao cả của người Việt đã được bồi đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Chúng ta có thể thấy rõ điều này từ tư tưởng nhân nghĩa chứa chan tình yêu thương con người trong trong những áng thơ bất hủ tại “Cáo bình N của Nguyễn Trãi với tư tưởng nhân nghĩa "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”;"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo” đến khi đánh thắng kẻ thù tàn ác vẫn “thể lòng trời, ta mở đường hiếu sinh”; Với “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của dân tộc - PGS.Tiến sĩ Lê Văn Toan- Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ (thuộc Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã viết “ ...Nhiều bài thơ trong "Nhật ký trong tù" toát lên tinh thần nhân đạo cao cả của Hồ Chí Minh. Các Mác nói: “Con người do hoàn cảnh tạo ra, bởi vậy, phải làm cho hoàn cảnh mang tính người”. Bác Hồ của chúng ta, thi sĩ Hồ Chí Minh, là kiểu mẫu đầy nhân đạo trong tính hai chiều đó. Hay như Nhà phê bình văn học nổi tiếng trong làng thơ văn nước ta, nhà nghiên cứu văn hóa xuất sắc nhất thế kỷ XX của Việt Nam - tác giả Hoài Thanh đã nói:Các ánh sáng tỏa ra từ tâm hồn Bác qua những trang thơ của Bác, trước hết là ánh sáng của tình thương người”; Với Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông từng nói về Bác: “Tính nhân đạo, tình thương đồng bào đó là điều sâu sắc nhất và tốt đẹp nhất trong con người Hồ Chủ tịch”. Rõ ràng tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương con người của dân tộc ta không chỉ xuất phát từ những người con đất Việt tự ngàn xưa mà trải qua thời gian, lòng yêu thương ấy đã luôn được bồi đắp, gìn giữ bằng trái tim chứa chan lòng vị tha và hành động thấm đẫm tình yêu thương con người của chính các bậc hiền tài, các vị lãnh tụ cao nhất của đất nước, tạo nên truyền thống nhân đạo cao quý của dân tộc. Từ đây, tư tưởng này, tinh thần này đã trở thành sợi ch đỏ xuyên suốt trong toàn bộ quan điểm chỉ đạo, đường lối lãnh đạo của Nhà nước ta ngày nay bằng chính Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó khi xác định các nhiệm vụ cải cách về tư pháp, Nghị quyết này đã chỉ rõ “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hương chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm”. Chính vì thế, hòa trong tiến trình phát triển chung của đất nước, pháp luật hình sự nước ta đã xác định: Chủ nghĩa nhân đạo là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng của Bộ luật hình sự, làm nên một Bộ luật hình sự (BLHS) đầy tính nhân văn của một đất nước, một dân tộc Việt Nam với bề dày lịch sử bốn nghàn năm dựng nước và giữ nước. Điều này đã được ghi nhận tại BLHS và thể hiện rõ nét tại Điều 3 về nguyên tắc xử lý Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích”.

Nguyên tắc này chính là cở sở pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự nước ta, nhằm bảo đảm quyền con người, tạo cơ hội cho người phạm tội sửa chữa lỗi lầm, hoàn lương và tái hòa nhập cộng đồng. Từ đó, các biểu hiện của nguyên tắc nhân đạo được ghi nhận tại hầu hết các Chương của Bộ luật này. Song, với phạm vi bài viết, tác giả xin phép được giới hạn một số biểu hiện mang tính cơ bản nhất của nguyên tắc nhân đạo được thể hiện tại BLHS, với mong muốn khơi dậy trong mỗi đọc giả là đồng nghiệp về lòng yêu quý BLHS- một Bộ luật được xếp vào hàng “tương đối khô cứng” nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật hiện nay của nước ta.

Trước hết, biểu hiện cụ thể của nguyên tắc này chính là chính sách khoan hồng và miễn, giảm trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Theo đó, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội; hoặc khi có quyết định đại xá, hoặc khi do chuyển biến của tính hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội; hoặc người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện, điều tra tội phạm lập công lớn, .. ; người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, được người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình (Điều 29-BLHS); BLHS cũng quy định người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2-Điều 54 Bộ luật này khi họ có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1-Điều 51- và được Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng liền kề nhẹ hơn của điều luật và đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể và được Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phải liền kề nhẹ hơn của điều luật mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 59-BLHS).

Ở BLHS, nguyên tắc nhân đạo được thể hiện rõ nét khi quy định chính sách xử lý đối với nhóm người yếu thế trong xã hội. Pháp luật nước ta hiện nay chưa có quy phạm nào quy định thống nhất về khái niệm “người yếu thế”, mà khái niệm này được xác định theo từng phạm vi điều chỉnh của Luật liên quan. Song, hiểu theo nghĩa thông thường thì người yếu thế là những cá nhân có hoàn cảnh khó khăn, dễ bị tổn thương, không có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình một cách đầy đủ trong các quan hệ pháp luật, xã hội và cần được ưu tiên bảo vệ hoặc hỗ trợ đặc biệt từ phía Nhà nước và cộng đồng. Theo đó, ở nước ta hiện nay, người yếu thế trong xã hội bao gồm: Trẻ em (theo Luật Trẻ em năm 2016); người cao tuổi (theo Luật người cao tuổi 2009); người khuyết tật (theo Luật người khuyết tật năm 2010); phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ (theo Bộ luật Lao động 2019; phụ nữ đơn thân, bị bạo hành (theo Luật Bình đẳng giới 2006 và Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2022); người nghèo, cận nghèo (theo chuẩn nghèo được quy định tại Nghị định số 351/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030); người cần được trợ giúp pháp lý (theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017); người bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (theo BLDS năm 2015); bị can, bị cáo chưa thành niên (theo BLHS năm 2015, Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024). Theo đó, những cá nhân thuộc các đối tượng nêu trên khi phạm tội sẽ được xem xét, áp dụng chính sách xử lý đối với nhóm người yếu thế. Cụ thể:
Đối với người dưới 18 tuổi: Đây là nhóm người chưa thành niên nên khả năng nhận thức và phát triển tâm sinh lý có hạn chế nhất định so với người đã trưởng thành. Vì vậy, pháp luật hình sự nước ta ưu tiên áp dụng các biện pháp giáo dục, thuyết phục thay vì xử lý hình sự. Đồng thời, các biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên cũng được pháp luật bảo vệ bằng các quy trình tư pháp thân thiện, hạn chế tối đa các hình phạt nặng để ưu tiên tính giáo dục và cải tạo đối với người chưa thành niên. Tại Điều 39 và Điều 40, BLHS không cho phép áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình đối với nhóm đối tượng này khi phạm tội, nhằm tạo cơ hội cho họ được “sửa mình”, dù trước đó họ đã từng có hành vi phạm một tội đặc biệt nghiêm trọng.

Đối với người phạm tội là phụ nữ mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi: Pháp luật hình sự nước ta cũng không áp dụng hình phạt tử hình hoặc cho phép chuyển đổi hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Chính sách này được quy định tại Khoản 2-Điều 40-BLHS, dựa trên nguyên tắc nhân đạo nhằm bảo vệ quyền được sống và quyền được chăm sóc của trẻ sơ sinh cũng như sự công bằng cho thai nhi chưa chưa chào đời hoặc đứa trẻ còn quá nhỏ.

Đồng thời, tại Điều 40-BLHS quy định không được áp dụng hình phạt tử hình đối với người từ 75 tuổi trở lên. BLHS hiện hành của nước ta cũng hạn chế hình phạt tử hình và thu hẹp đáng kể các tội danh có khung hình phạt tử hình. BLHS cũng quy định người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng hoặc lập công lớn được chuyển thành án tù chung thân.

Đặc biệt, nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta còn được thể hiện ở chính sách không truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi che giấu tội phạm đối với trường hợp: Ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội khi có hành vi che giấu hành vi phạm tội của con, cháu, anh chị em,vợ hoặc chồng mình (trừ tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng). Điều này cho thấy nhà nước ta đã rất coi trọng mối tình thân trong mỗi gia đình, mặc dù đứng trước sự an nguy của quốc gia, sự ổn định của xã hội thì mối quan hệ riêng tư trong mỗi gia đình cũng phải được đặt ra sau lợi ích của quốc gia, của dân tộc (Điều 18 BLHS).

Nghiên cứu pháp luật hình sự nước ta, chúng ta có thể thấy rằng pháp luật hình sự không chỉ quy định chính sách nhân đạo với người phạm tội khi xem xét xử lý hành vi phạm tội của người phạm tội trong giai đoạn họ bị điều tra, tuy tố, xét xử mà sau khi họ bị Tòa án tuyên phạt mức phạt tù bằng bản án có hiệu lực thì pháp luật hình sự nước ta vẫn có chính sách tha tù trước hạn đối với họ khi người đang chấp hành án phạt tù có đủ các điều kiện, như: phạm tội lần đầu; có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; có nơi cư trú rõ ràng và đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự; đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn…; Đồng thời, người đang chấp hành án phạt tù nếu đã chấp hành ít nhất một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn và họ thuộc trường hợp là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi cũng được áp dụng chính sách khoan hồng này (Điều 66 và Điều 106-BLHS).

Về hiệu lực áp dụng: Tại Điều 7 Luật Hình sự 2015 quy định: Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Ngược lại, đối với điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Ngoài các biểu hiện rất cơ bản nêu trên, nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta còn được thể hiện ở các biểu hiện khác, như: BLHS quy định biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện để áp dụng đối với đối tượng có nhân thân tốt; bị xử phạt tù không quá 03 năm; chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc; có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật này và có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Nói tóm lại, những biểu hiện trên là sự biểu hiện chân thực nhất và sinh động nhất về tính nhân đạo trong pháp luật hình sự nước ta hiện nay. Tính nhân đạo đó đã được xây dựng thành nguyên tắc cơ bản của BLHS và được ghi nhận tại các điều luật cụ thể nhằm làm cơ sở cho việc áp dụng, xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự và bị coi là tội phạm. Nguyên tắc này còn được xác định là một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật hình sự ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bởi các quy phạm pháp luật hình sự luôn chứa đựng tính nhân văn cũng như luôn chứa đựng nội dung nhằm bảo vệ các quyền tối thiểu của con người dù họ đang ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ngay cả khi họ bị xác định là tội phạm, đã thể hiện rõ nét tư tưởng của một nhà nước với bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng- Khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới cũng đã ghi nhận nhà nước ta tiếp tục xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo. Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu cao nhất của pháp luật là nhằm đảm bảo sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức - Đây chính là biểu hiện cao nhất của một Nhà nước luôn đặt con người làm vị trí trung tâm để phát triển- cũng chính là một trong các biểu hiện quan trọng nhất của nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự nước ta. Nhận thức sâu sắc và hiểu rõ hơn về nguyên tắc này giúp cho chúng ta- những công chức, Kiểm sát viên của ngành Kiểm sát nhân dân càng xác định được rõ hơn trách nhiệm, vai trò của mình khi thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, bởi lẽ từ nhận thức đúng, chúng ta sẽ có những hành động chuẩn mực không ngừng học tập, rèn luyện, nỗ lực phấn đấu nhằm đáp ứng được yêu cầu đặt ra của ngành trong giai đoạn mới, xây dựng và củng cố được đức tínhcông minh” là đức tính hàng đầu và quan trọng trong 05 đức tính tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ ngành Kiểm sát "Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn", góp phần làm sáng hơn, đẹp hơn về hình ảnh của những công chức ngành Kiểm sát trong lòng nhân dân ngày nay.

Ngọc Thuận - Phòng 7 VKSND tỉnh Khánh Hòa

Liên kết website

Thông kê truy cập